Nội dung Làm việc với Windows Server 2008 Task Scheduler – Phần 1
Windows Task Scheduler có từ rất lâu rồi. Công cụ này xuất hiện ít nhất
cũng từ thời Windows NT 4.0 và đã giải quyết được nhiều vấn đề trong những
năm đã qua. Từ thời đại của Windows NT, Windows Task Scheduler đã tồn tại
dưới dạng một công cụ dòng lệnh có tên AT.AT được sử dụng để chạy
các nhiệm vụ ở một thời điểm cụ thể. Mặc dù AT đã thực hiện tốt công việc
của nó nhưng nó vẫn yêu cầu quản trị viên phải nhập vào một số các khóa
chuyển đổi dòng lệnh phức tạp.
Chính vì sự phức tạp đó nên Microsoft đã giới thiệu một giao diện đồ họa
cho công cụ AT (có lẽ được phát hành đầu tiên trong Windows 98 Resource
Kit). Công cụ này có tên gọi WinAT, đã đơn giản hóa quá trình xử lý bằng
cách sử dụng Windows task scheduler, tuy nhiên có một số lý do mà nó chưa
bao giờ đáp ứng được các yêu cầu của các quản trị viên.
Mặc dù vậy nhưng AT vẫn tồn tại trong Windows Vista và Windows Server
2008, Microsoft đã mang Windows Task Schedulers sang tận thế kỷ 21. Lệnh AT
không thực sự được thay đổi nhiều nhưng thực tế nếu quan sát màn hình
capture được thể hiện trong hình A, bạn sẽ thấy rằng phiên bản Windows Vista
của lệnh AT cũng giống như những gì được sử dụng nhiều trong các phiên bản
Windows trước đây.
Hình A: Phiên bản Windows Vista của lệnh AT giống
như những gì bạn vẫn thấy nhiều trong các phiên bản Windows cũ
Các phiên bản Windows Vista và Windows Server 2008 của Task Scheduler
cung cấp nhiều tính năng hơn so với những gì đã được thể hiện trong các
phiên bản trước, tuy nhiên các tính năng mới này vẫn chưa được bộc lộ thông
qua lệnh AT mà thay vào đó, có một giao diện người dùng mới cung cấp cho bạn
sự truy cập vào tất cả các tính năng mới này. Trong Windows Server 2008, bạn
có thể truy cập vào Windows Task Scheduler bằng cách mở Server Manager và
điều hướng thông qua cây giao diện để vào Server Manager | Configuration |
Task Scheduler. Bạn có thể quan sát về diện mạo của giao diện trong hình B.
Hình B: Màn hình Windows Task Scheduler ban đầu
hiển thị tất cả các nhiệm vụ đã được hoàn thành trong 24h vừa qua.
Các Trigger
Một trong những khác biệt lớn nhất giữa task scheduler của Windows Server
2008 và Windows Vista là số lượng các trigger có sẵn. Một trigger là một sự
kiện để tạo nên hành động đã được lập lịch biểu. Nếu bạn đang sử dụng lệnh
AT như một giao diện cho Windows Task Scheduler, thì chỉ có trigger có sẵn
đối với bạn là schedule trigger. Cho ví dụ, bạn có thể cấu hình Windows Task
Scheduler để thực hiện một hành động tại một thời điểm cụ thể nào đó. Bạn
cũng có tùy chọn tạo sự kiện diễn ra có tính chất định kỳ, nhưng đó là các
tùy chọn trigger khác.
Nếu bạn sử dụng giao diện đồ họa cho Windows Task Scheduler, bạn sẽ có
tùy chọn cho việc tạo các trigger được lập lịch trình, tuy nhiên có rất
nhiều tùy chọn có sẵn khác nữa. Một trong số các trigger khác được cung cấp
ở đây gồm:
- At Log On
- At Startup
- On Idle
- On an Event
- At Task Creation / Modification
- On Connection to User Session
- On Disconnect from User Session
- On Workstation Lock
- On Workstation Unlock
Như những gì bạn có thể hình dung, các kiểu trigger khác nhau
này cho phép bạn rất nhiều khả năng linh hoạt. Cho ví dụ, bạn có thể tạo một
nhiệm vụ để tự động chạy một kịch bản khi một sự kiện hệ thống nào đó xuất hiện.
Ngược lại bạn có thể tạo một nhiệm vụ để hiển thị một thông báo cảnh báo bảo mật
mỗi khi người dùng mở khóa máy tính của họ.
Các Action
Microsoft đã tạo rất nhiều kiểu schedule trigger mới, họ cũng
cho phép bạn có nhiều tùy chọn trong quá trình thực hiện hành động nào đó khi
một trigger xuất hiện. Nếu đã từng làm việc với AT command, thì bạn sẽ biết rằng
trước đây tùy chỉ có tùy chọn của bạn cho việc thực hiện hành động để chạy một
lệnh. Lệnh này có thể là một chương trình thực thi, hoặc nó cũng có thể là một
file .bat.
Tuy nhiên Windows Task Scheduler GUI trong Windows Server
2008 vẫn cho phép bạn thực thi lệnh khi một trigger xuất hiện, nhưng bạn không
chỉ có tùy chọn đó mà còn có thể gửi một email (với một đính kèm mang tính tùy
chọn) hoặc hiển thị một thông báo trong một cửa sổ trên máy tính mà trên đó
trigger xuất hiện.
Nói theo góc độ kỹ thuật, tất cả các tùy chọn này đều hoàn
toàn mang tính khả thi khi sử dụng lệnh AT. Sự khác biệt ở đây là nếu bạn muốn
sử dụng lệnh AT để gửi một thông báo email hoặc để hiển thị một thông báo văn
bản nào đó thì bạn sẽ phải viết một kịch bản để tạo thông báo, sau đó thiết lập
một nhiệm vụ để khởi chạy kịch bản tại thời điểm lập lịch trình. Windows Server
2008 cho phép bạn hoàn toàn thoải mái trong việc tạo kịch bản vì nó cung cấp các
công cụ hiển thị các thông báo văn bản email. Tất cả những gì bạn cần phải thực
hiện là điền vào trong các trường.
Các điều kiện
Điều thú vị về Windows Server 2008 Task Scheduler là rằng nó
còn cho phép bạn có thể kiểm soát các điều kiện trigger nào có hiệu lực. Cho ví
dụ, bạn có thể chỉ muốn một nhiệm vụ lập lịch trình để chạy nếu máy tính chạy
bằng nguồn AC, bằng không trong trường hợp nó chạy bằng battery. Ngược lại nếu
máy tính đang ở trong chế độ ngủ đông (hibernation) thì bạn cần phải quyết đinh
xem máy tính có nên thức giấc để thực hiện nhiệm vụ đã được kích hoạt, hoặc muốn
máy tính vẫn ở chế độ ngủ.
Nếu Windows đang chạy trên một laptop thì đôi khi kết nối
mạng có thể bị đứt (kết nối mạng không dây). Nếu nhiệm vụ đã được kích hoạt phụ
thuộc vào mạng thì nó sẽ không có tác dụng khi chạy, chính vì vậy bạn cần làm
sao để Windows biết được có hay không nhiệm vụ phụ thuộc vào mạng.
Trên đây là tất cả các ví dụ về các điều kiện có thể ảnh
hưởng đến cách một nhiệm vụ có thể chạy. Như những gì bạn có thể thấy trong hình
C, Windows cho phép bạn thiết lập trước các điều kiện này, và các điều kiện khác
để Windows Task Scheduler biết được điều kiện nào sẽ chạy nhiệm vụ kích hoạt.
Hình C: Windows cung cấp một số các điều kiện mang
tính tùy chọn để bạn có thể cấu hình
Các thiết lập
Các thiết lập cũng giống như các điều kiện, tuy nhiên được sử
dụng khi một nhiệm vụ kích hoạt đang chạy. Cho ví dụ, một thiết lập cho phép bạn
thông báo cho Windows biết những gì cần phải thực hiện nếu nhiệm vụ kích hoạt
thất bại, hoặc nếu nó chạy nhưng vượt quá thời gian cho phép. Bạn cũng có thể sử
dụng các thiết lập này để áp đặt một nhiệm vụ phải dừng trong các tình huống nào
đó hoặc thậm chí còn tự động xóa một nhiệm vụ đã quá hạn. Hãy xem các thiết lập
có sẵn đối với bạn trong hình D.
Hình D: Các thiết lập cho phép bạn điều khiển cách một
nhiệm vụ tiến hành như thế nào khi nó được bắt đầu
Kết luận
Trong phần này, chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn các thành
phần cơ bản để “make up” Windows Task Scheduler. Trong phần 2 của loạt bài này,
chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn cách tạo một nhiệm vụ, và một số nhiệm vụ
built in.
Source Làm việc với Windows Server 2008 Task Scheduler – Phần 1: ThongTinBaoMat.Com,quantrimang.comLàm việc với Windows Server 2008 Task Scheduler – Phần 1 Tags Làm việc với Windows Server 2008 Task Scheduler Những bài viết tương tự Làm việc với Windows Server 2008 Task Scheduler – Phần 1: Bảo mật FTP Server với Windows Server 2008 | Di chuyển DHCP từ 2000 Server/Server 2003 sang Server 2008 | Windows Server 2008 lại bị hoãn | 10 lý do để cài đặt Windows Server 2008 | 10 lệnh Netsh của Windows Server 2008 nên biết | Bảo mật Terminal Services của Windows Server 2008 | Di chuyển dữ liệu DNS sang Windows Server 2008 II | Di chuyển dữ liệu DNS sang Windows Server 2008 I | Chuyển DHCP từ Windows Server 2000 sang 2008 | Cách cài đặt và cấu hình Windows Server 2008 |