Nội dung Quá trình thiết lập một mạng không dây
Lúc này chắc hẳn nhiều bạn trong số chúng ta hẳn đều biết
rằng, chỉ cần một laptop có hỗ trợ truy cập mạng không dây là bạn có thể ngồi
bất cứ ở đâu đó trong địa điểm phủ sóng của một điểm truy cập không dây để truy
cập vào mạng. Quả thực mạng không dây đã mang lại cho chúng ta rất nhiều sự lựa
chọn trong sơ sở hạ tầng mạng của một công ty nào đó. Tuy nhiên quá trình thiết
lập một mạng không dây về căn bản sẽ như thế nào. Đó chính là chủ đề trong bài
mà chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về quá trình thiết lập một mạng không
dây.
Phần cứng mạng không dây
Việc thiết lập một mạng không dây cũng tương tự như việc
thiết lập một mạng chạy dây. Tuy nhiên điểm khác biệt lớn nhất nằm ở phần cứng.
Trong phần này, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn một số các thiết bị thường
được sử dụng nhất và giải thích những chức năng thực hiện của chúng.
Điểm truy cập không dây
Thành phần trung tâm của hầu hết các mạng không dây là điểm
truy cập không dây, về trường hợp này bạn có thể tham khảo về mô hình 3Com mà
chúng tôi lấy ví dụ như trong hình A bên dưới.
Hình A: Điểm truy cập không dây 3Com
Điểm truy cập không dây chính là thiết bị kết nối một mạng
không dây với một mạng chạy dây. Chúng thực hiện chức năng như một hub cho các
máy khách không dây. Điểm truy cập không dây cũng gồm có cổng Ethernet chuẩn
dùng để kết nối đến mạng chạy dây. Cổng này cho phép sự truyền thông hai chiều
giữa hai mạng.
Mặc dù việc sử dụng điểm truy cập là phương pháp được sử dụng
nhiều nhất trong quá trình thiết lập một mạng không dây, tuy nhiên đó không phải
là một yêu cầu bắt buộc. Bạn có thể sử dụng card mạng không dây với hai chế độ
hoạt động: sơ sở hạ tầng và ad hoc. Khi hoạt động trong chế độ ad hoc, card mạng
có thể truyền thông với nhau một cách trực tiếp mà không cần đến điểm truy cập.
Tuy nhiên sử dụng điểm truy cập sẽ làm cho mạng của bạn dễ dàng hơn trong việc
quản lý, cho phép truyền thông với mạng không dây và cho phép bạn kiểm soát tốt
hơn về vấn đề bảo mật.
Gateway băng thông rộng
Có đến hàng triệu băng tần khác nhau và các mô hình của
gateway băng thông rộng cho mạng không dây (cho ví dụ như trong hình B) được
cung cấp trên thị trường với rất nhiều tính năng khác nhau. Mặc dù vậy chúng vẫn
có một số đặc điểm chung như: kết nối trực tiếp với modem DSL hoặc modem cáp của
bạn và chia sẻ kết nối băng thông rộng với các máy khách không dây thông qua một
điểm truy cập không dây. Hầu hết các mô hình cũng đều có một hub đính kèm có thể
dùng cho các máy khách chạy dây. Một điều thú vị nhất về các gateway băng thông
rộng không dây là hầu hết trong số chúng đều cung cấp các tính năng chỉ
available cho một số các tập đoàn lớn với một số năm nhất định. Nhìn chung, các
sản phẩm như vậy thường có giá từ 200$ đến 600$, phụ thuộc vào các tính năng
được cung cấp trong chúng.
Hình B: Một ví dụ về gateway băng thông
rộng không dây
Card PCI không dây
Các laptop thường sử dụng card mở rộng PCMCIA, trong khi đó
trên các máy trạm thường thiên về sử dụng card PCI hơn. Mặc dù vậy cả hai cách
thức thực hiện đều cho phép hỗ trợ card mạng không dây. Hình C bên dưới thể hiện
card mạng PCI không dây của Linksys. Hình D là một card PCMCIA. Thành phần màu
đen ở cuối card là anten của card. Cả hai card đều hoạt động ở cùng một tốc độ
11 Mbps, tuy nhiên lại dùng cho các kiểu máy khác nhau.
Hình C: Card PCI không dây
Hình D: PCMCIA card
USB NIC không dây
Một kiểu NIC không dây khác đó là USB NIC. Điều thú vị với
các USB NIC đó là chúng có thể làm việc với cả các laptop và máy trạm. Các bạn
có thể tham khảo ví dụ về USB NIC không dây trong hình E bên dưới.
Hình E: USB NIC không dây
Cầu Ethernet không dây
Cầu Ethernet không dây cung cấp kết nối giữa mạng không dây
và mạng chạy dây với nhau. Trong khi điểm truy cập không dây cho phép các máy
khách không dây kết nối với các mạng chạy dây (và ngược lại), thì cầu Ethernet
không dây lại cho phép các thiết bị chạy dây hoạt động trên một mạng không dây.
Cho ví dụ, một trong những máy in laser có card JetDirect đi
kèm có thể cho phép cắm trực tiếp vào mạng. Trong trường hợp này bạn muốn làm
việc trên mạng không dây nhưng không có card không dây. Giải pháp có thể thực
hiện được ở đây là cắm card mạng của máy in vào cổng RJ-45 trên cầu Ethernet
không dây. Ở tình huống này, máy in sẽ duy trì địa chỉ IP của nó với danh nghĩa
một cầu nối. Khi các máy khách cần truy cập vào máy in, các bảng định tuyến sẽ
hướng chúng đi qua điểm truy cập không dây để đến được cầu không dây, sau đó đến
máy in. Trong kịch bản này, bạn đang sử dụng cầu Ethernet không dây để kết nối
một thiết bị riêng lẻ vào một mạng không dây, tuy nhiên cũng có thể kết nối cả
một đoạn mạng nào đó vào mạng không dây thông qua cầu này. Mặc dù vậy, nếu bạn
có kế hoạch kết nối nhiều thiết bị hãy sử dụng điểm truy cập không dây để tiết
kiệm và hiệu quả hơn.
Hình F: Cầu Ethernet không dây
Chạy dây cho không dây
Thông thường, khi bạn tạo một mạng không dây, bạn sẽ phải bắt
đầu quá trình bằng cách kết nối điểm truy cập của mình vào mạng chạy dây thông
qua một kết nối cáp thông thường (không phải cáp đấu chéo). Khi kết nối chạy dây
đến điểm truy cập được thiết lập, bạn phải sử dụng một trong những máy khách
trên mạng chạy dây để cấu hình điểm truy cập.
Các vấn đề về giao diện web
Hầu hết các điểm truy cập không dây đều có thể được cấu hình
thông qua giao diện web. Các khối đều có máy chủ web đi kèm để quản lý một site
cấu hình web. Cũng tương tự như vậy, các khối cũng có máy chủ DHCP đi kèm để có
thể phân phối địa chỉ IP đến các máy khách không dây. Nếu mạng của bạn đã có máy
chủ DHCP rồi, khi đó bạn nên vô hiệu hóa máy chủ DHCP của điểm truy cập không
dây đi nhằm ngăn chặn việc lọc các địa chỉ IP đã được đăng ký bởi máy chủ DHCP
khác.
Việc kết nối vào điểm truy cập không dây được thực hiện hoàn
toàn đơn giản, bạn chỉ cần mở Internet Explorer, nhập vào địa chỉ IP của điểm
truy cập không dây. Ở thao tác này, bạn cần phải xem tài liệu đi kèm với điểm
truy cập không dây để xem xem địa chỉ IP nào được sử dụng, tuy nhiên địa chỉ
thường hay được sử dụng nhất vẫn là 192.168.0.1. Ban đầu có thể sẽ hơi khó khăn
cho việc kết nối đến một site cấu hình của điểm truy cập không dây. Tuy nhiên
nếu bạn gặp phải vấn đề nào đó, hãy kiểm tra để bảo đảm rằng Internet Explorer
không bị cấu hình để sử dụng proxy server. Nếu mạng của bạn phụ thuộc vào proxy
server, khi đó hãy bổ sung thêm một địa chỉ IP của điểm truy cập không dây vào
bảng địa chỉ nội bộ (LAT) của proxy server, và bạn có thể truy cập vào sie cấu
hình mà không cần hủy bỏ cài đặt proxy client của máy trạm.
Bạn cũng có thể bắt gặp lỗi kiểu trong subnet. Cho ví dụ, nếu
mạng của bạn sử dụng subnet mask là 255.255.0.0 và điểm truy cập không dây của
bạn sử dụng subnet mask là 255.255.255.0, khi đó mạng của bạn sẽ không thể
truyền thông với điểm truy cập không dây. Trong trường hợp này bạn có thể xếp
đặt mọi thứ vào một subnet chung hoặc cập nhật các bảng định tuyến của mình nhằm
cung cấp một đường dẫn logic đến điểm truy cập không dây.
Cấu hình
Khi bạn đã tạo một kết nối đến trang cấu hình của điểm truy
cập không dây, lúc này hãy bắt đầu quá trình của mình. Bạn phải chọn các thiết
lập mà mình muốn sử dụng, sau đó cấu hình các máy khách không dây để sử dụng các
thiết lập giống nhau. Quá trình cấu hình thực sự cho một điểm truy cập không dây
diễn ra khác nhau phụ thuộc vào các nhà sản xuất thiết bị, tuy nhiên các thông
tin cơ bản mà bạn cần phải cung cấp hoàn toàn giống nhau. Trong các phần bên
dưới, chúng tôi sẽ giới thiệu cho các bạn về các thiết lập không dây quan trọng
này.
Vùng dịch vụ LAN không dây
Vùng dịch vụ LAN không dây hay vẫn được gọi là SSID, chính là
nơi xác minh mạng không dây. Thông thường, vùng dịch vụ LAN không dây đều đặt
tên bằng văn bản. Cho ví dụ, bạn có thể đặt tên cho vùng dịch vụ LAN không dây
của mình là “Mạng không dây của Công Ty A” nào đó. Một tên duy nhất như vậy sẽ
bảo đảm rằng bạn không bị sử dụng nhầm lẫn SSID bên cạnh.
Tên khối
Điểm truy cập không dây có phạm vi đủ lớn phục vụ cho hầu hết
các văn phòng nhỏ nào. Mặc dù vậy, trong các tòa nhà lớn, một điểm truy cập
không dây có thể không đủ để cung cấp tất cả sự bao phủ cần thiết. Trong các
tình huống giống như vậy, cần phải sử dụng nhiều điểm truy cập không dây. Theo
cách đó các card mạng không dây hoạt động tương tự như điện thoại cell phone.
Khi một người dùng roaming một tòa nhà bằng một laptop, wireless NIC sẽ tìm kiếm
các điểm truy cập có sẵn hiện đang được cung cấp với tín hiệu lớn nhất và kết
nối đến điểm truy cập này cho tới khi tín hiệu đó trở thành yếu và cần thay thế
bằng một điểm truy cập khác. Tên của khối chính là phương pháp wireless NIC sử
dụng để phân định điểm truy cập nào mà nó đang truyền thông với.
Kênh
Tuy các điểm truy cập không dây 802.11B làm việc ở phạm vi
dải tần 2.4-GHz nhưng vẫn có các kênh khác nhau nằm bên trong dải phổ 2.4-GHz.
Nhìn chung thường có 9 kênh có sẵn nhưng một số mô hình cũ hơn chỉ có ba đến sáu
kệnh. Việc thiết lập một kênh không dây cũng đơn giản như việc điều chỉnh sóng
vô tuyến trong xe ô tô để bắt được một trạm phát sóng nào đó.
Vậy tại sao cần có nhiều kênh đến vậy? Một lý do ở đây là
nhằm giúp bạn tìm ra một kệnh không bị ảnh hưởng bởi các hệ số môi trường. Cho
ví dụ, khi thiết lập số kênh là 3, điện thoại không dây sẽ ảnh hưởng đến hiệu
suất mạng. Một lý do khác cho các kênh này là sự riêng tư. Hãy hình dung rằng
bạn đang hoạt động trên kênh 6 nhưng một văn phòng bên cạnh bạn cũng hoạt động
cùng với kênh đó. Thông thường, nó sẽ phát sinh vấn đề ở đây trừ khi bạn chọn sử
dụng SSID mặc định. Nếu điều đó xảy ra, hai mạng sẽ xuyên nhiễu lẫn nhau.
Việc sử dụng kênh khác nhau với ở bên cạnh nhau sẽ cho bạn
mang lại hiệu suất tốt hơn. Giống như cáp đồng, mỗi một kênh có một số lượng hạn
chế băng thông nhất định. Thông thường, bạn phải có đến khoảng 64 máy tính trên
một kênh trước khi hiệu suất báo động, nhưng nếu một máy khách nào đó đang sử
dụng kết nối nặng, thì những suy biến về hiệu suất có thể xuất hiện chỉ với một
số máy tính online khác.
WEP
Wireless Encryption Protocol (WEP) là một công nghệ mã hóa để
ngăn chặn một kẻ thứ ba có thể xâm nhập vào kênh của bạn để ăn cắp các gói dữ
liệu khi đang phát chúng trên không khí, bên cạnh đó việc sử dụng chúng cũng cho
phép bạn tăng được khả năng truy cập vào các thông tin nhậy cảm. WEP có một số
hệ số khác nhau: 40 bit (hiện nay gần như không sử dụng), 64 bit và 128 bit.
Việc kích hoạt WEP thường là vấn đề chọn giữa mã hóa 64-bit
hay 128-bit và sau đó chọn mật khẩu cho WEP. Mật khẩu cho WEP phải là một số
hexa 13 ký tự ( cho 64 bit) hoặc 26 ký tự cho (128 bit). Ý tưởng ở đây là rằng
các số này không phải dùng để truyền tải mà dùng để mã hóa vào cấu hình của điểm
truy cập và cấu hình máy khách. Khi một máy khách gửi đi một thông báo đến điểm
truy cập, gói dữ liệu sẽ được mã hóa bằng cách sử dụng mật khẩu WEP với tư cách
là key. Khi điểm truy cập nhận thông báo, nó có thể giải mã nó vì đã có sẵn key
cần thiết.
Source Quá trình thiết lập một mạng không dây: ThongTinBaoMat.Com,quantrimang.comQuá trình thiết lập một mạng không dây Tags Bao mat | Virus | Web | Download Những bài viết tương tự Quá trình thiết lập một mạng không dây: Cách kiểm tra các kết nối không bảo mật | 3 thiếu sót về bảo mật của Google+ | Xác định thời gian khởi động của Windows qua Event Viewer | Thay đổi trình duyệt mặc định trong iOS | Chuyên gia bảo mật chỉ trích Google | Tính năng mới của Facebook lại vừa bị lợi dụng | Những thao tác cơ bản để xóa bỏ phần mềm bảo mật giả mạo | Tăng tốc Mac - không khó | 5 mẹo giúp bảo vệ dữ liệu khỏi bị xâm phạm | 5 cách đảm bảo người dùng không bị “theo dõi” trên Internet |