Nội dung Năm mối đe dọa đối với nguồn lưu trữ
Nhiều doanh nghiệp cứ tưởng rằng dữ liệu lưu trữ của mình đã được bảo vệ rất
cẩn thận, nhưng họ đã nhầm. Dưới đây là những lời khuyên giúp bạn tránh được
một sai lầm tương tự.
Nếu bạn nghĩ rằng chỉ có hacker hay thậm chí là những nhân viên xấu trong
nội bộ công ty là mối đe dọa lớn nhất đối với sự an toàn của dữ liệu được
lưu trữ, thì bạn đã sai lầm. Dù những mối đe dọa như thế vẫn là mối bận tâm
lớn, thì nguy cơ cao hơn có thể đến từ chính những nhân viên tốt của bạn –
những người có thể vô tình để lộ dữ liệu công ty thông qua mạng chia sẻ tập
tin ngang hàng hay máy tính xách tay bị để không đúng chỗ. Một cuộc nghiên
cứu gần đây của Viện Ponemon tại bang Michigan (Mỹ) cho thấy chính những
nhân viên bất cẩn mới là mối đe dọa lớn nhất đối với an ninh dữ liệu, chiếm
đến 78% tổng số vụ xâm phạm.
Không may là tình trạng xâm phạm dữ liệu đã trở thành chuyện thường ngày ở
các công ty Mỹ. Theo Trung tâm tài nguyên và mất cắp danh tính (ITRC) có trụ
sở tại thành phố San Diego, số vụ xâm phạm được ghi nhận trong năm 2008 tăng
47% so với năm trước đó. Tuy nhiên, theo Craig Muller, một chuyên gia về nạn
ăn cắp tính danh, thì tỷ lệ gia tăng thật sự có thể cao hơn vì còn có nhiều
vụ không được trình báo.
Công chúng Mỹ rõ ràng là đang chịu không ít khổ sở bởi vấn nạn này. Một cuộc
khảo sát năm 2008 của Viện Ponemon cho thấy 55% trong 1.795 người khắp nước
Mỹ được hỏi cho biết họ đã được thông báo về ít nhất hai vụ xâm phạm dữ liệu
trong 24 tháng trước. 8% người cho biết họ nhận được từ bốn thông báo trở
lên.
Dù vậy, các công ty vẫn không rõ cách thức tự bảo vệ mình. Theo một cuộc
khảo sát được Viện Ponemon công bố vào tháng trước, chỉ có 16% trong 577
chuyên gia an ninh tự tin hay rất tự tin rằng những biện pháp bảo vệ dữ liệu
hiện tại có thể giúp dữ liệu nhân viên hay khách hàng không bị mất mát hay
ăn cắp. Một phương cách để có được sự tự tin ấy là tìm hiểu kỹ về những vụ
xâm phạm dữ liệu và học hỏi từ chúng.
Dưới đây là năm loại xâm phạm dữ liệu phổ biến và cách thức đề phòng.
1. Thiết bị bị đánh cắp
Tháng 5-2006, dữ liệu cá nhân của 26,5 triệu cựu binh Mỹ bị đe dọa sau khi
một máy tính xách tay và một ổ cứng bị mất cắp tại nhà của một nhà thầu phụ
của Bộ các vấn đề về cựu binh Mỹ. Cả hai thiết bị đã được thu hồi và các vụ
bắt giữ được tiến hành. Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) cho biết không có dữ
liệu nào bị đánh cắp, nhưng vụ việc buộc bộ này tiến hành cải tổ. Tuy nhiên,
đến tháng 1-2007, một vụ việc tương tự xảy ra sau khi một máy tính xách tay
chứa dữ liệu của 535.000 cựu binh và hơn 1,3 triệu bác sĩ bị đánh cắp khỏi
một cơ sở y tế tại bang Alabama.
Thiệt hại: Ở vụ việc tháng 5-2006, Bộ các vấn đề về cựu
binh Mỹ sau đó tốn khoảng 200.000 đô-la Mỹ mỗi ngày cho một trung tâm giải
đáp các cuộc gọi điện thoại thắc mắc về vụ xâm phạm dữ liệu đầu tiên. Ngoài
ra, bộ này cũng chi khoảng 1 triệu đô-la Mỹ để in ấn và gửi thư thông báo vụ
việc. Một số đơn kiện dân sự về vụ việc cũng được nộp lên tòa án, trong đó
có một đơn kiện đòi bồi thường 1.000 đô-la Mỹ cho mỗi cá nhân bị ảnh hưởng.
Riêng vụ xâm phạm dữ liệu năm 2007, Bộ các vấn đề về cựu binh Mỹ dành ra 20
triệu đô-la Mỹ để trang trải những chi phí liên quan. Ngoài ra, gần đây bộ
này cũng đồng ý trả 20 triệu đô-la Mỹ cho các quân nhân và cựu quân nhân để
dàn xếp một vụ kiện dân sự có liên quan đến việc mất dữ liệu này.
Hiện trạng: Theo ITRC, tỷ lệ số vụ xâm phạm dữ liệu xuất
phát từ việc để thất lạc thiết bị hoặc bị mất cắp là cao nhất – khoảng 20%
trong năm 2008. Trong khi đó, luật sư Bart Lazar tại văn phòng luật Seyfarth
Shaw LLP ở thành phố Chicago cho biết máy tính xách tay bị thất lạc hay mất
cắp chiếm đa số vụ xâm phạm dữ liệu mà ông xử lý.
Biện pháp đề phòng: Luật sư Lazar đưa ra ba đề xuất. Trước
tiên, cần hạn chế việc đặt thông tin nhận diện cá nhân vào máy tính xách tay.
Chẳng hạn như đừng gắn kết tên tuổi khách hàng hoặc nhân viên với những
thông tin nhận dạng khác, như số an sinh xã hội hay thẻ tín dụng. Một giải
pháp là bạn có thể loại bỏ những con số này. Ngoài ra, bạn có thể tạo ra
những dữ liệu nhận dạng độc nhất, như kết hợp những ký tự từ tên một người
với bốn con số cuối cùng trong số an sinh xã hội của người này.
Thứ hai, cần mã hóa thông tin cá nhân lưu trữ trên máy tính xách tay, dù
tiến trình này có thể tốn thêm chi phí (từ 50 đến 100 đô-la Mỹ/máy). Ông
Blair Semple, một chuyên gia về bảo mật lưu trữ tại NetApp Inc., nói thêm
rằng biện pháp này cần được đi kèm với việc nâng cao ý thức của những người
có trách nhiệm. Ông nói: “Tôi từng thấy những tình huống trong đó người
ta có khả năng mã hóa nhưng họ không làm thế.”
Thứ ba, cần có các chính sách yêu cầu việc cài đặt mật khẩu nghiêm ngặt để
bảo vệ dữ liệu trên những thiết bị bị mất cắp.
2. Ăn cắp dữ liệu trong nội bộ
 | Tháng
11-2007, một nhà quản trị cơ sở dữ liệu cao cấp tại công ty Certegy Check
Services đánh cắp hồ sơ của hơn 8,5 triệu khách hàng rồi bán cho một nhà môi
giới với giá 500.000 đô-la Mỹ. Nhà môi giới này sau đó bán chúng lại cho các
nhà tiếp thị trực tiếp. Nhà quản trị nói trên sau đó lãnh bản án bốn năm tù
và bị phạt 3,2 triệu đô-la Mỹ.
Trong một vụ nổi bật khác, một nhà khoa học kỳ cựu tại công ty hóa chất
DuPont tải về những tài liệu có chứa các bí mật thương mại trước khi nghỉ
việc vào cuối năm 2005 và gia nhập một công ty đối thủ ở châu Á. Người này
sau đó bị kết án 18 tháng tù và phải nộp phạt 30.000 đô-la Mỹ.
Thiệt hại: Trong vụ DuPont, giá trị ước tính của các bí mật
thương mại bị đánh cắp lên đến 400 triệu đô-la Mỹ. Tuy nhiên, các nhà chức
trách đánh giá DuPont chỉ thiệt hại khoảng 180.500 đô-la Mỹ. Ngoài ra, không
có bằng chứng cho thấy những thông tin mật được chuyển cho đối thủ cạnh
tranh.
Hiện trạng: Theo ITRC, gần 16% vụ xâm phạm dữ liệu được ghi
nhận trong năm 2008 là do những người trong nội bộ doanh nghiệp gây ra. Tỷ
lệ này cao gấp đôi so với năm trước đó. Một trong những nguyên nhân là các
nhân viên bị lôi kéo bởi những người ngoài có liên hệ với tội phạm. Theo
Trung tâm điều phối CERT tại Đại học Carnegie Mellon, xu hướng này chiếm 50%
số vụ phạm tội do người trong nội bộ gây ra từ năm 1996 đến 2007. CERT cho
biết nhân viên nội bộ phạm tội vì hai nguyên nhân: tiền bạc (vụ Certegy
Check Services) và lợi ích công việc (vụ DuPont). Theo CERT, mối đe dọa này
rất khó đối phó, nhất là đối với nhân viên có đặc quyền truy cập dữ liệu.
Biện pháp đề phòng: Theo CERT, một biện pháp đề phòng hữu
hiệu là giám sát việc truy cập cơ sở dữ liệu và mạng để phát hiện những hoạt
động đáng ngờ, đồng thời thiết lập ngưỡng sử dụng đối với những nhân viên
khác nhau. Điều này giúp việc phát hiện một nhân viên làm việc khác với
những nhiệm vụ được giao trở nên dễ dàng hơn. Chẳng hạn như hành vi sai trái
của nhà khoa học trong vụ DuPont bị phanh phui sau khi công ty phát hiện ông
sử dụng máy chủ thư viện dữ liệu điện tử nhiều một cách khác thường.
Các công ty cũng nên sử dụng những công cụ kiểm soát việc truy cập dựa trên
vai trò để có thể biết rõ người nào đang truy cập những thông tin có giá trị.
Ngoài ra, theo luật sư Lazar, cần hạn chế truy cập những cơ sở dữ liệu chứa
thông tin của nhân viên hay khách hàng.
Trong khi đó, ông Muller đề nghị sử dụng các công cụ ngăn mất mát dữ liệu để
hạn chế việc dữ liệu cá nhân được gửi qua e-mail, in ấn hay sao chép lên máy
tính xách tay và thiết bị lưu trữ bên ngoài. Điều quan trọng không kém là
phải tăng cường các biện pháp kiểm tra và kiểm tra nội bộ, như kiểm tra
thường xuyên mạng và các tập tin nhật ký về hoạt động trên cơ sở dữ liệu.
3. Sự xâm nhập từ bên ngoài
Tháng 1-2007, nhà bán lẻ The TJX Companies Inc. cho biết các hệ thống giao
dịch khách hàng của mình đã bị xâm nhập. Những vụ xâm nhập này diễn ra từ
năm 2003 đến tháng 12-2006, tạo điều kiện cho hacker truy cập 94 triệu tài
khoản khách hàng. Những thông tin bị đánh cắp này bị phát hiện sử dụng trong
một âm mưu làm thẻ tín dụng giả. Vào mùa hè năm 2008, 11 người bị truy tố về
những cáo buộc liên quan đến vụ việc. Đây là vụ xâm nhập máy tính và ăn cắp
tính danh lớn nhất mà Bộ Tư pháp Mỹ từng truy tố.
Thiệt hại: TJX ước tính mức thiệt hại của vụ xâm nhập vào
khoảng 256 triệu đô-la Mỹ, bao gồm chi phí sửa hệ thống, trang trải cho kiện
tụng và các cuộc điều tra, nộp phạt… Tuy nhiên, có những ước tính rằng con
số thiệt hại có thể lên đến 1 tỷ đô-la Mỹ, bao gồm cả khoản tổn thất từ việc
mất mát khách hàng. Ngoài ra, Ủy ban Thương mại Liên bang còn buộc TJX phải
chịu các cuộc kiểm tra an ninh của bên thứ ba trong 20 năm tới.
Hiện trạng: Một cuộc nghiên cứu năm 2008 của Ponemon xếp các vụ xâm phạm dữ
liệu do hacker gây ra vào vị trí thứ 5 trong các mối đe dọa bảo mật. Thật ra,
theo ITRC, khoảng 14% số vụ xâm phạm dữ liệu được ghi nhận trong năm 2008 có
liên quan đến hacker.
Trong vụ của công ty TJX, hacker đã dùng kỹ thuật gọi là “war driving” – tức
chạy xe lang thang để tìm kiếm mạng không dây Wi-Fi nào mắc lỗi bảo mật, sử
dụng máy tính xách tay hay thiết bị hỗ trợ cá nhân số – để xâm nhập vào mạng
không dây của công ty. Điều đáng nói là vào thời điểm bị xâm nhập, TJX đang
dùng một phương thức mã hóa dưới chuẩn, không cài đặt bức tường lửa và mã
hóa dữ liệu trên máy tính sử dụng mạng không dây. Điều này cho phép hacker
cài đặt phần mềm trên mạng để truy cập dữ liệu khách hàng cũ được lưu trữ
trên hệ thống, đồng thời chặn dữ liệu được gửi giữa các thiết bị kiểm tra
giá cầm tay, máy đếm tiền và máy tính của cửa hàng.
Biện pháp đề phòng: Theo ông Muller, phương thức mã hóa WEP
mà TJX dùng trên mạng không dây của mình là không đủ mạnh, thậm chí còn thua
cả những phương thức mà nhiều người có mạng không dây ở nhà sử dụng. Ông nói:
“Nếu bạn có thể truy cập dữ liệu ngay từ chỗ đậu xe thì rõ ràng bạn cần
có một mức độ bảo mật và mã hóa dữ liệu cao hơn.” Một vấn đề khác là
TJX còn cho lưu trữ thông tin tài khoản cũ thay vì xóa hẳn chúng.
4. Nhân viên bất cẩn
Vợ của một nhân viên làm việc tại nhà của hãng dược Pfizer cài đặt một phần
mềm chia sẻ tập tin trái phép trên máy tính xách tay của công ty mà người
này đang dùng. Hành động này khiến cho người ngoài có thể truy cập được
những tập tin chứa tên tuổi, số an sinh xã hội, địa chỉ và thông tin về tiền
thưởng của khoảng 17.000 nhân viên hiện nay và trước kia của công ty. Một
cuộc điều tra cho thấy dữ liệu của khoảng 15.700 người đã bị sao chép trên
một mạng ngang hàng và khoảng 1.250 người khác có nguy cơ bị lộ dữ liệu.
Thiệt hại: Pfizer Inc. thuê một công ty báo cáo tín dụng
theo dõi thông tin liên quan đến tín dụng của những người bị ảnh hưởng trong
vòng một năm và mua bảo hiểm để trang trải những chi phí mà mỗi cá nhân có
thể gánh do hậu quả của vụ xâm phạm dữ liệu.
Hiện trạng: Cuộc nghiên cứu của Ponemon cho thấy những nhân
viên bất cẩn là mối đe dọa số một đối với an ninh dữ liệu. Kết hợp những
nhân viên này với phần mềm chia sẻ tập tin, mối đe dọa sẽ càng gia tăng. Một
cuộc nghiên cứu của Đại học Darthmouth vào năm 2007 cho thấy dù nhiều công
ty đã cấm chia sẻ tập tin trên mạng của họ, không ít nhân viên vẫn cài đặt
phần mềm này trên máy tính ở xa và ở nhà.
Biện pháp đề phòng: Các công ty cần hoặc là cấm triệt để
phần mềm chia sẻ tập tin ngang hàng hoặc là ban hành những chính sách về
việc sử dụng chương trình này và có những công cụ để thi hành những chính
sách như thế. Một điều quan trọng không kém là nói cho nhân viên biết về
những nguy hiểm của mạng ngang hàng, làm thế nào để cài đặt một mật khẩu tốt
và những biện pháp bảo mật thông thường khác.
5. Nhà thầu phụ
Tháng 11- 2008, Cơ quan An ninh kinh tế bang Arizona của Mỹ đã thông báo với
gia đình của khoảng 40.000 trẻ em bang này rằng dữ liệu của chúng có thể đã
bị xâm phạm sau khi xảy ra một vụ trộm vài ổ cứng tại một cơ sở lưu trữ
thương mại. Những ổ cứng này được bảo vệ bằng mật khẩu nhưng không được mã
hóa.
Thiệt hại: Theo Ponemon, những thiệt hại từ những vụ xâm
phạm dữ liệu tại nhà thầu phụ còn cao hơn so với những vụ xâm phạm dữ liệu
trong nội bộ – bình quân 231 đô-la Mỹ/hồ sơ khách hàng so với 171 đô-la Mỹ/hồ
sơ.
Hiện trạng: Theo cuộc nghiên cứu thường niên của Ponemon,
số vụ xâm phạm dữ liệu tại những công ty gia công bên ngoài, nhà tư vấn hay
đối tác làm ăn chiếm khoảng 44% tổng số vụ mà những công ty tham gia cuộc
nghiên cứu báo cáo vào năm ngoái, tăng 4% so với năm 2007. Trong khi đó,
cuộc nghiên cứu của ITRC cho biết 10% vụ xâm phạm dữ liệu có liên quan đến
nhà thầu phụ.
Biện pháp đề phòng: Các công ty cần soạn thảo những bản
thỏa thuận mức độ dịch vụ kín kẽ và cụ thể, bảo đảm các nhà thầu phụ tuân
thủ chúng và trừng phạt họ nếu họ không tuân thủ. Theo ông Semple, các công
ty cũng cần yêu cầu nhà thầu phụ dùng biện pháp bảo vệ bằng mật khẩu hay mã
hóa trong trường hợp cần dùng băng hay đĩa sao lưu dữ liệu của họ.
Theo TBVTSG (Computerworld)
Source Năm mối đe dọa đối với nguồn lưu trữ: ThongTinBaoMat.ComNăm mối đe dọa đối với nguồn lưu trữ Tags Bao mat | Virus | Web | Những bài viết tương tự Năm mối đe dọa đối với nguồn lưu trữ: Các xu hướng bảo mật năm 2010 | Top 10 nguy cơ bảo mật năm 2007 | Top 10 đe dọa bảo mật năm 2011 | Năm mới 2008 và nguy cơ botnet Storm | Những đe doạ bảo mật lớn nhất năm 2007 | 5 xu hướng bảo mật cho 2011 và những năm tới | Mã hóa ổ lưu trữ dữ liệu Dropbox với BoxCryptor | Apple vá lỗi cực kỳ nghiêm trọng trên iOS | Kiểm tra độ an toàn của các trang web | Tin tặc hạ gục hệ thống email Lầu năm góc |